Báo cáo mới của VECOM cho thấy quy mô đào tạo ngành TMĐT tăng nhanh, nhưng “lỗ hổng kỹ năng” về TMĐT xuyên biên giới và nội dung môi trường vẫn là nút thắt lớn khi Việt Nam bước vào giai đoạn phát triển xanh, tuần hoàn giai đoạn 2026–2030.
Tháng 12/2025, Hiệp hội Thương mại điện tử Việt Nam (VECOM) công bố Báo cáo Đào tạo thương mại điện tử 2025, được xây dựng từ khảo sát gần 250 cơ sở giáo dục đại học trong cả nước (thực hiện giai đoạn tháng 8–10/2025).
Một thập kỷ tăng trưởng cao giúp thương mại điện tử trở thành kênh mua sắm chủ lực của người Việt, nhưng cũng bộc lộ nhiều yếu tố thiếu bền vững: rác thải bao bì, vật liệu nhựa khó phân hủy; khoảng cách phát triển giữa Hà Nội, TP.HCM với các địa phương; và đặc biệt là khoảng trống nguồn nhân lực “làm được việc” ở nhiều khâu – từ vận hành sàn, logistics, thanh toán đến tuân thủ pháp luật.

Trong bối cảnh đó, hai “đường ray” chính sách quan trọng đang định hình giai đoạn tới: Luật Thương mại điện tử được Quốc hội thông qua tháng 12/2025 và Kế hoạch tổng thể phát triển TMĐT quốc gia giai đoạn 2026–2030 (Quyết định 1568/QĐ-BCT ngày 03/6/2025). Cả hai đều nhấn mạnh quan điểm phát triển TMĐT bền vững theo hướng xanh, tuần hoàn, giảm tác động tiêu cực tới môi trường và tạo giá trị cho cộng đồng. VECOM cho biết báo cáo 2025 được thực hiện dưới sự chỉ đạo của Cục Thương mại điện tử và Kinh tế số (Bộ Công Thương), nhằm nhìn thẳng vào bài toán nhân lực cho TMĐT bền vững.

Kết quả khảo sát tại 238 cơ sở giáo dục đại học (không thuộc khối Quốc phòng – An ninh, Nghệ thuật hoặc đặc thù) cho thấy đến năm 2025 có 47 trường đào tạo ngành TMĐT, 16 trường đào tạo chuyên ngành TMĐT và 113 học phần TMĐT. So với các năm trước, số cơ sở đào tạo tiếp tục tăng. Một số trường mới mở ngành TMĐT so với khảo sát 2023 gồm: ĐH Bà Rịa – Vũng Tàu, ĐH Công nghệ Miền Đông, ĐH Kiên Giang, ĐH Kinh tế – Kỹ thuật Bình Dương, ĐH Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long, ĐH Thăng Long và ĐH Nghệ An.
Sức hút thể hiện rõ ở tuyển sinh. Số lượng tuyển sinh mới ngành TMĐT tăng từ 3.479 sinh viên (năm học 2023–2024) lên 4.987 sinh viên (năm học 2025–2026). Ở góc nhìn chất lượng đầu vào, 79% trường cho biết điểm chuẩn trúng tuyển có xu hướng tăng qua từng năm. Con số này nói đơn giản: TMĐT đang “đắt khách” và các trường phải chịu áp lực đào tạo nghiêm túc hơn, vì người học kỳ vọng việc làm và sự thăng tiến là thật – không phải “môn hot theo trend”.

Nhóm nghiên cứu nhận xét việc tiếp cận thông tin chương trình đào tạo qua website trường đã thuận lợi hơn trước, nhờ quy định “Ba công khai” và nhu cầu truyền thông tuyển sinh. Nhiều trường công bố danh mục học phần, số tín chỉ, lộ trình học theo học kỳ và chuẩn đầu ra, giúp thí sinh, doanh nghiệp và nhà quản lý có cơ sở tham chiếu ban đầu.
Tuy nhiên, càng đi sâu càng gặp vướng. Khó khăn lớn nhất nằm ở sự thiếu đồng nhất định dạng và cấu trúc dữ liệu: nơi đăng dạng HTML dễ đọc, nơi tải file Word, nơi lại lưu trên Google Drive; vị trí đặt tài liệu cũng “mỗi trường một kiểu”, có trường để trong “Ba công khai”, có trường nằm sâu trong website khoa/viện; công cụ tìm kiếm nội bộ còn yếu. Thêm một điểm đáng chú ý: tính cập nhật chưa cao, có nơi tài liệu công bố không phản ánh phiên bản mới nhất. Với mục tiêu kiểm định chất lượng, so sánh liên trường và nâng chuẩn đào tạo, đây là “nút thắt mềm” nhưng gây tốn thời gian và nguồn lực thật.

Báo cáo 2025 tập trung khảo sát các học phần đặc thù. Pháp luật TMĐT là nội dung được nhiều trường giảng dạy nhất; tiếp theo là an toàn, bảo mật TMĐT và quản trị dự án TMĐT. Ngược lại, hai học phần ít được chú ý nhất lại chính là những thứ sẽ quyết định “độ bền” của TMĐT trong giai đoạn tới: TMĐT xuyên biên giới và bảo vệ môi trường trong TMĐT.
Dữ liệu cho thấy: khoảng 70% chương trình có học phần về pháp luật TMĐT, nhưng chỉ 38% trường có học phần về TMĐT xuyên biên giới và chỉ 26% trường đưa nội dung bảo vệ môi trường vào chương trình đào tạo. Đây là nghịch lý: yêu cầu chiến lược đã rõ – vừa phải xanh, vừa phải đẩy mạnh xuất khẩu trực tuyến – nhưng chương trình đào tạo lại chưa “phổ cập” đúng mức.
Ở đây có một vấn đề rất thực tế: trong nhiều trường, nếu có ba học phần liên quan (pháp luật TMĐT, TMĐT & bảo vệ môi trường, TMĐT xuyên biên giới) thì thường vẫn là học phần tự chọn. Muốn đưa thành bắt buộc, các trường sẽ phải đối mặt với 4 việc khó: sửa đổi chương trình đào tạo; bồi dưỡng đội ngũ giảng viên; xây dựng giáo trình – học liệu; và mở rộng liên kết với tổ chức/doanh nghiệp liên quan đến môi trường và TMĐT xuyên biên giới.

Khảo sát trên 3.000 sinh viên cho thấy 80,5% đánh giá thị trường việc làm ngành TMĐT trong 3 năm tới là “nhiều cơ hội”. Đây là chỉ báo tích cực. Nhưng lạc quan không đồng nghĩa thỏa mãn. Sinh viên bày tỏ nhu cầu tăng thực hành, cập nhật xu hướng công nghệ mới như AI, TikTok Shop, và kỹ năng vận hành thực tế trên sàn – tức học xong có thể chạy chiến dịch, đọc dữ liệu, tối ưu gian hàng, phối hợp logistics – thanh toán – chăm sóc khách hàng, thay vì chỉ giỏi lý thuyết. Ở phía giảng viên, báo cáo ghi nhận nỗ lực nghiên cứu khoa học nhưng còn hạn chế về công bố quốc tế. 72,5% giảng viên tham gia các hội thảo khoa học về TMĐT/Kinh tế số, song phần lớn vẫn là hoạt động trong nước. Điều này gợi mở một khoảng trống khác: muốn đào tạo TMĐT bền vững và xuyên biên giới, bản thân đội ngũ giảng dạy cũng cần cơ hội “xuyên biên giới” về tri thức, hợp tác và cập nhật thực tiễn. Gợi ý chính sách và hành động: đừng để “xanh” chỉ là khẩu hiệu.

Từ kết quả khảo sát, Hiệp hội Thương mại điện tử Việt Nam đã có nhiều đề xuất. Đối cơ quan quản lý nhà nước về thương mại điện tử cần có chính sách hợp tác phát triển với các quốc gia đẻ trao đổi giảng viên, sinh viên; có nhiều chia sẻ, truyền thông trực tiếp với hệ thống giáo dục để sinh có thể tiếp cận các chính sách mới; phát triển khung năng lực nghề nghiệp thương mại điện tử quốc gia; hỗ trợ kinh phí cho dự án đào tạo kỹ năng thương mại điện tử cơ bản tại các trường đại học; mở rộng chương trình chứng chỉ kỹ năng.
Bên cạnh đó, chú trọng triển khai các hoạt động tập huấn kỹ năng số, giảng dạy ứng dụng thực tế và đào tạo lại cho giảng viên thương mại điện tử cả nước với sự tham gia của hiệp hội thương mại điện tử, doanh nghiệp công nghệ số lớn như Google, Shopee, TikTok, VNPay.

Với cơ quan quản lý Nhà nước về giáo dục và đào tạo cập nhật chương trình đào tạo thương mại điện tử theo hướng thực hành, tăng cường hợp tác với doanh nghiệp để nâng cao năng lực nghề nghiệp cho sinh viên; xây dựng chuẩn đầu ra riêng cho lĩnh vực thương mại điện tử; khuyến khích đổi mới phương pháp giảng dạy gắn với thực tế và chuyển đổi số trong giáo dục…
Nguyễn Thành
















